37. Trai Đàn Phẩm Vật Hóa Hạng
Nguyên văn:
齋壇品物貨項
興作禮、方桌几五件、蓋五件、米錢品物具足、衣冠鞋笠具足。
發奏禮、方桌几四件、蓋五件、盤几三件、坐几一件、方朴衣冠十部、火爐架一件、五色帛五段各長七尺、新磁四碟、筆二株、硃墨各一片、扇巾隨數人、覆疏巾、米錢品物具足。
揚旛禮、大項竹四株、旛布四疋、方桌几四件、蓋三件、米錢品物具足。
開壇禮、方桌几五件、蓋六件、印巾四段毎段三尺五寸、金魁鐵甲四部、燭四段幷橄欖、米錢具足。
開闢壇、方桌六件、蓋六件、榜聯六部、藍花燈十對、品物具足。
拔度亡壇、方桌几十五件、長几二件置亡、印巾八段、紅絹一段三尺五寸、白布度亡橋一段七尺、五方將五形、三級寶臺一座、朱陵一座、大項鼎一口、船一隻內有地藏像一形幷棹夫一形、新席一對、刀一舌、青黃白色布三段各長二十尺、前愆旛一連二十尺白色、宿燈二十八件、花由十株、米錢品物具足。
賑濟壇、方桌二十五件、蓋隨數、長几一部、坐几一件、土埕一口、白布一尺、勺一口、米錢品物具足、三層摟藏一座上有觀音像一形幷善財龍女、玉皇殿一座內奉玉皇南曹北斗像各一形、焦面牛頭馬面、四天王將四形。
Phiên âm:
TRAI ĐÀN PHẨM VẬT HÓA HẠNG
Hưng Tác Lễ: Phương trác kỷ ngũ kiện, cái ngũ kiện, mễ tiền phẩm vật cụ túc, y quan hài lạp cụ túc.
Phát Tấu Lễ: Phương trác kỷ tứ kiện, cái ngũ kiện, bàn kỷ tam kiện, tọa kỷ nhất kiện, phương phác y quan thập bộ, hỏa lô giá nhất kiện, ngũ sắc bạch ngũ đoạn các trường thất xích, tân từ tứ điệp, bút nhị chu, chu mặc các nhất phiến, phiến cân tùy số nhân, phú sớ cân, mễ tiền phẩm vật cụ túc.
Dương Phan Lễ: Đại hạng trúc tứ chu, phan bố tứ sơ, phương trác kỷ tứ kiện, cái tam kiện, mễ tiền phẩm vật cụ túc.
Khai Đàn Lễ: Phương trác kỷ ngũ kiện, cái lục kiện, ấn cân tứ đoạn mỗi đoạn tam xích ngũ thốn, kim khôi thiết giáp tứ bộ, chúc tứ đoạn tinh cảm lãm, mễ tiền cụ túc.
Khai Tịch Đàn: Phương trác lục kiện, cái lục kiện, bảng liên lục bộ, lam hoa đăng thập đối, phẩm vật cụ túc.
Bạt Độ Vong Đàn: Phương trác kỷ thập ngũ kiện, trường kỷ nhị kiện trí vong, ấn cân bát đoạn, hồng quyến nhất đoạn tam xích ngũ thốn, bạch bố độ vong kiều nhất đoạn thất xích, Ngũ Phương Tướng ngũ hình, tam cấp Bảo Đài nhất tòa, Chu Lăng1 nhất tòa, đại hạng đỉnh nhất khẩu, thuyền nhất chích nội hữu Địa Tạng tượng nhất hình tinh trạo phu nhất hình, tân tịch nhất đối, đao
nhất thiệt, thanh hoàng bạch sắc bố tam đoạn các trường nhị thập xích, Tiền Khiên2 Phan nhất liên nhị thập xích bạch sắc, túc đăng nhị thập bát kiện, hoa do thập chu, mễ tiền phẩm vật cụ túc.
Chẩn Tế Đàn: Phương trác nhị thập ngũ kiện, cái tùy số, trường kỷ nhất bộ, tọa kỷ nhất kiện, thổ trình nhất khẩu, bạch bố nhất xích, chước nhất khẩu, mễ tiền phẩm vật cụ túc. Tam tằng lâu tạng nhất tòa thượng hữu Quan Âm tượng nhất hình tinh Thiện Tài3 Long Nữ;4 Ngọc Hoàng5 Điện nhất tòa nội phụng Ngọc Hoàng, Nam Tào,6 Bắc Đẩu7 tượng các nhất hình; Tiêu Diện, Ngưu Đầu, Mã Diện,8 Tứ Thiên Vương Tướng tứ hình.
Dịch nghĩa:
PHẨM VẬT CẦN THIẾT CHO TRAI ĐÀN
Lễ Hưng Tác:
- Bàn ghế vuông: 5 cái.
- Lọng: 5 cái.
- Gạo tiền phẩm vật: đầy đủ.
- Áo mão giày dép: đầy đủ.
Lễ Phát Tấu:
- Bàn ghế vuông: 4 cái.
- Lọng: 5 cái.
- Mâm ghế: 3 cái.
- Ghế ngồi: 1 cái.
- Áo mão: 10 bộ.
- Giá lò hương: 1 cái.
- Lụa ngũ sắc: 5 đoạn, mỗi đoạn dài 7 thước.
- Nam châm mới: 4 cục.
- Bút: 2 cây.
- Mực mài: mỗi thứ 1 thẻ.
- Quạt, khăn: tùy số người.
- Khăn phủ lên sớ.
- Gạo tiền phẩm vật: đầy đủ.
Lễ Dương Phan (treo lá phan lên):
- Tre lớn: 4 cây.
- Vải phan: 4 xấp.
- Bàn ghế vuông: 4 cái.
- Lọng: 3 cái.
- Gạo tiền phẩm vật: đầy đủ.
Lễ Khai Đàn:
- Bàn ghế vuông: 5 cái.
- Lọng: 6 cái.
- Khăn phủ ấn: 4 đoạn, mỗi đoạn dài 3 thước rưỡi.
- Muỗng vàng áo giáp sắt: 4 bộ.
- Đuốc: 4 đoạn và cây Trám.
- Gạo tiền: đầy đủ.
Đàn Khai Tịch:
- Bàn vuông: 6 cái.
- Lọng: 6 cái.
- Bảng liễn: 6 bộ.
- Đèn Hoa Lam: 10 cái.
- Phẩm vật: đầy đủ.
Đàn Bạt Độ Vong Linh:
- Bàn ghế vuông: 10 cái.
- Ghế Trường Kỷ: 2 cái dùng để thờ vong linh.
- Khăn phủ ấn: 8 đoạn.
- Lụa hồng: 1 đoạn 3 thước rưỡi.
- Vải trắng dùng cho Cầu Độ Vong: 1 đoạn 7 thước.
- Tướng Ngũ Phương: 5 bức hình.
- Bảo Đài ba cấp: 1 tòa.
- Chu Lăng: 1 tòa.
- Vạc lớn: 1 cái.
- Thuyền: 1 chiếc, bên trong có đặt 1 hình tượng Địa Tạng, và 1 hình người lái đò.
- Chiếu mới: 1 tấm.
- Đao: 1 cây.
- Vải màu xanh vàng trắng: 3 đoạn, mỗi đoạn dài 20 thước.
- Phan Tiền Khiên: 1 lá 20 thước, màu trắng.
- Đèn đuốc: 28 cây.
- Hoa: 10 bó.
- Gạo tiền phẩm vật: đầy đủ.
Đàn Chẩn Tế:
- Bàn vuông: 25 cái.
- Lọng: tùy số.
- Ghế Trường Kỷ: 1 bộ.
- Ghế ngồi: 1 cái.
- Hũ bằng đất: 1 cái.
- Vải trắng: 1 thước.
- Chước: 1 cái.
- Gạo tiền phẩm vật: đầy đủ.
- Lầu ba tầng: 1 tòa, trên có 1 hình tượng Quan Âm và Thiện Tài, Long Nữ.
- Điện Ngọc Hoàng: 1 tòa, bên trong thờ tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, mỗi thứ 1 hình.
- Tiêu Diện Đại Sĩ, quỷ Đầu Trâu Mặt Ngựa, Tứ Thiên Vương Tướng: 4 hình.
Chú thích:
- Chu Lăng (朱陵): tức Chu Lăng Động Thiên (朱陵洞天), là một trong 36 động thiên của Đạo Gia, ở tại huyện Hành Sơn (衡山縣), Hồ Nam (湖南), Trung Quốc. Từ đó, từ nầy được mượn dùng để chỉ cho nơi trú ngụ của chư vị thần tiên. Như trong bài Đạo Sĩ Bộ Hư Từ (道士步虛詞) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có câu: “Xích ngọc linh văn hạ, Chu Lăng chơn khí lai (赤玉靈文下、朱陵眞氣來, ngọc đỏ văn giáng xuống, Chu Lăng linh khí về).” Hay trong bài thơ Túc Nam Đài Tự (宿南臺寺) của Trương Cư Chánh (張居正, 1525-1582) nhà Minh cũng có câu: “Minh triêu cánh mích Chu Lăng lộ, đạp biến tử vân do vị toàn (明朝更覓朱陵路、踏遍紫雲猶未旋, sớm mai lại kiếm Chu Lăng nẻo, giẫm khắp tía mây vẫn chửa về).”
- Tiền khiên (前愆): tội lỗi, sai lầm trước kia. Như trong Khổng Tùng Tử (孔叢子), phần Luận Thư (論書) thứ 2, của Khổng Phụ (孔鮒, 264-208) nhà Tần, có câu: “Ưu tư tam niên, truy hối tiền khiên (憂思三年、追悔前愆, ưu tư ba năm, hối hận lỗi trước).” Hay trong Tịnh Độ Tư Lương Toàn Tập (淨土資糧全集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1162) quyển 3 có đoạn: “Phàm phu ngu mê, chỉ tri sám kỳ tiền khiên, bất tri hối kỳ hậu quá, dĩ bất hối cố, tiền khiên bất diệt, hậu quá hựu sanh (凡夫愚迷、只知懺其前愆、不知悔其後過、以不悔故、前愆不滅、後過又生, phàm phu ngu mê, chỉ biết ăn năn những sai lầm trước kia, mà chẳng biết hối hận những tội lỗi sau nầy; do vì không hối hận, nên sai lầm trước không diệt, mà tội lỗi sau vẫn phát sinh).”
- Tức Thiện Tài Đồng Tử (s: Sudhana-śreṣṭhi-dāraka, 善財童子): là vị Bồ Tát cầu đạo trong Phẩm Nhập Pháp Giới (入法界品) của Kinh Hoa Nghiêm, từng đi về phía Nam tham vấn 53 vị thiện tri thức, cho đến Bồ Tát Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢) thì thành tựu Phật đạo. Phật Giáo Đại Thừa lấy trường hợp nầy làm bằng chứng của Tức Thân Thành Phật (卽身成佛); quá trình cầu pháp của Đồng Tử thể hiện các giai đoạn nhập vào pháp giới Hoa Nghiêm. Căn cứ vào Phẩm Nhập Pháp Giới của Cựu Hoa Nghiêm Kinh (舊華嚴經) quyển 45, Thiện Tài Đồng Tử là con trai của trưởng giả Phước Thành (福城), lúc vào bào thai và hạ sanh, có các loại trân bảo tự nhiên hiện ra, nên có tên là Thiện Tài (善財). Về sau, Đồng Tử được Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利) dạy dỗ, rồi ngao du đến các nước phương Nam. Ban đầu, Đồng Tử đến Khả Lạc Quốc (可樂國), tham vấn Tỳ Kheo Công Đức Vân (功德雲), nhận pháp môn Niệm Phật Tam Muội (念佛三昧). Tiếp theo, Đồng Tử đã từng tham vấn qua đủ các hạng người như Bồ Tát, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, đồng tử, đồng nữ, Dạ Thiên, Thiên Nữ, Bà La Môn, Trưởng Giả, thầy thuốc, người lái thuyền, quốc vương, tiên nhân, Phật mẫu, vương phi, Thần Đất, Thần Cây, v.v.; lắng nghe và thọ nhận đủ loại pháp môn; cuối cùng đến đạo tràng của Bồ Tát Phổ Hiền thì chứng vào Pháp Giới Vô Sanh (無生法界). Theo Hoa Nghiêm Thám Huyền Ký (華嚴經探玄記, Taishō Vol. 35, No. 1733) quyển 18 cho biết, hành chứng của Đồng Tử thông với Tam Sanh (三生, ba đời) là thấy nghe (đời trước), hành giải (đời nầy), chứng nhập (đời sau); tức biểu thị trong một đời nầy, Thiện Tài tu đủ những pháp hành của 5 vị là Thập Tín (十信), Thập Trụ (十住), Thập Hành (十行), Thập Hồi Hướng (十迴向), Thập Địa (十地). Đây chính là nghĩa “Tam Sanh Thành Phật (一生成佛, Thành Phật Ba Đời).” Tuy nhiên, Hoa Nghiêm Tông chỉ có thuyết Nhất Sanh Thành Phật (一生成佛, Thành Phật Một Đời); cho nên khi nói ba đờiở đây biểu thị sự phân vị của pháp môn, thật tế thì trong một đời một niệm đã có ba đời; vì vậy chủ trương ba đời thấy nghe, hành giải, chứng nhập có thể trong một đời mà thành Phật. Do đó, việc thành Phật của Thiện Tài Đồng Tử có hai thuyết là Tam Sanh Thành Phật và Nhất Sanh Thành Phật. Ngoài ra, việc Đồng Tử tham vấn các thiện tri thức biểu thị thứ tự trước sau của nhân quả tiệm chứng (因果漸證, chứng ngộ từ từ theo nhân quả). Có nhiều kệ tán cũng như hình tượng liên quan đến lịch trình cầu đạo của Thiện Tài Đồng Tử, như Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Pháp Giới Phẩm Tán (大方廣佛華嚴經入法界品讚) của Dương Kiệt (楊傑, hậu bán thế kỷ 11) nhà Bắc Tống, được tìm thấy trong Viên Tông Văn Loại (圓宗文類, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 58, No. 1015) quyển 22; tỷ dụ bài Diệu Đức Viên Mãn Chủ Dạ Thần Tán (妙德圓滿主夜神讚) rằng: “Lâu các trang nghiêm tiếp Thiện Tài, chư thiên vi nhiễu hóa môn khai, Tỳ Lô Hải Tạng ngô thân nhập, tằng kiến Thế Tôn Đâu Suất lai (樓閣莊嚴接善財、諸天圍遶化門開、毗盧海藏吾親入、曾見世尊兜率來, lầu gác trang nghiêm tiếp Thiện Tài, chư thiên quanh nhiễu hóa cửa khai, Tỳ Lô biển tánh ta vào thẳng, từng thấy Thế Tôn Đâu Suất [đến] đây).” Hay tác phẩm Ngũ Tướng Trí Thức Tụng (五相智識頌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 58, No. 1022) của Trung Sư (忠師); như bài tụng rằng: “Kỳ tai bất động Ưu Bà Di, thần biến đa năng xuất định thì, cố vấn Thiện Tài hoàn kiến phủ, nhất luân minh nguyệt ấn thiên trì (奇哉不動優婆夷、神變多能出定時、顧問善財還見否、一輪明月印天池, lạ thay Ưu Bà Di, thần biến đa năng xuất định khi, muốn hỏi Thiện Tài thấy chăng nhỉ, một vầng trăng sáng giữa hồ trời).” Bên cạnh đó, Phật Quốc Duy Bạch (佛國惟白, ?-?), Thiền Sư của Vân Môn Tông sống dưới thời Bắc Tống, cũng có bản Phật Quốc Văn Thù Chỉ Nam Đồ Tán (佛國文殊指南圖讚, Taishō Vol. 45, No. 1891), v.v. Tại các tự viện Thiền Tông, thông thường bên tay trái của Bồ Tát Quán Thế Âm thường có an trí tượng Thiện Tài Đồng Tử. Trong Thiền môn có bài tán về Thiện Tài rằng: “Thiện Tài Đồng Tử, ngũ thập tam tham, siêu sanh tử độ cô hồn, tảo vãng Tây phương, nhược nhơn quy y, Phật Pháp Tăng Tam Bảo, bất đọa Tam Đồ (善財童子、五十三參、超生死度孤魂、早往西方、若人歸依、佛法僧三寶、不墮三途, Thiện Tài Đồng Tử, năm ba lần tham, vượt sanh tử độ cô hồn, sớm qua Tây phương, nếu người quy y, Phật Pháp Tăng Tam Bảo, không đọa Ba Đường).”
- Long nữ (龍女): nguyên là con gái của Long Vương Bà Kiệt La (s: Sāgara, 娑竭羅), là thị giả cho Bồ Tát Quán Thế Âm, thường xuyên hầu hạ hai bên Bồ Tát với Thiện Tài Đồng Tử. Trong Phẩm Đề Bà Đạt Đa (提婆達多品) thứ 12 của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 4 cho biết rằng năm lên 8 tuổi Long Nữ đã thành thục căn lành, lên Linh Thứu Sơn (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 靈鷲山), dâng hạt châu báu cúng dường Đức Phật, trải qua mọi chất vấn của Tôn Giả Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) và hiện tướng thành Phật tại Hội Pháp Hoa. Long Nữ thể hiện tánh từ bi của Phật Giáo, thường phụ tá Bồ Tát Quán Thế Âm cứu độ chúng sanh trong Sáu Đường; thị hiện thân tiểu đồng nữ, giống như Thiện Tài. Dân gian cho rằng Long Nữ là rắn hóa thành rồng, nhưng thật sự không phải như vậy. Trong đồ hình Quán Âm, có hình tiên nữ tuyệt đẹp đứng hầu bên Bồ Tát, chính là Long Nữ. Thiện Tài Đồng Tử và Long Nữ được gọi chung là Kim Đồng Ngọc Nữ (金童玉女). Trong Hoa Nghiêm Kinh Hợp Luận Giản Yếu (華嚴經合論簡要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 4, No. 225) quyển 2 có câu rằng: “Tiệm tiệm dẫn chí Long Nữ Thiện Tài, nhất niệm chi trung đắc thành Phật giả(漸漸引至龍女善財、一念之中得成佛者, dần dần dẫn đến Long Nữ Thiện Tài, chỉ trong một niệm chứng đắc thành Phật).” Hay trong Pháp Hoa Kinh Đại Ý (法華經大意, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 31, No. 609) quyển 1 lại có đoạn: “Đốn kiến cổ Phật toàn thân, quán Long Nữ chi hiến châu, tật vãng Vô Cấu thế giới, hà sa chi giới bất cách (頓見古佛全身、觀龍女之獻珠、疾往無垢世界、河沙之界不隔, chợt thấy cổ Phật toàn thân, quán thấy Long Nữ dâng châu, nhanh qua thế giới Vô Cấu, hà sa cõi nước không cách).”
- Tức Ngọc Hoàng Thượng Đế (玉皇上帝): tên gọi của vị vua tối cao của bầu trời, là chủ của Thiên Đình, với nhiều tôn xưng khác nhau như Hạo Thiên Thượng Đế (昊天上帝), Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝), Ngọc Đế (玉帝), Ngọc Hoàng (玉皇), Hạo Thiên Kim Khuyết Chí Tôn Ngọc Hoàng Đại Đế (昊天金闕至尊玉皇大帝), Huyền Khung Cao Thượng Ngọc Hoàng Đại Thiên Đế (玄穹高上玉皇大天帝), Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Linh Cao Thượng Đế (玉皇大天尊玄靈高上帝), hay dân gian thường gọi là Thiên Công (天公, Ông Trời). Dưới thời nhà Tống, vua Chơn Tông (眞宗, tại vị 997-1022) cũng như Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) đều có ban Thánh hiệu cho Ngọc Hoàng Đại Đế. Vua Chơn Tông ban cho Thánh hiệu là Thái Thượng Khai Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chơn Thể Đạo Ngọc Hoàng Đại Thiên Đế (太上開天執符御歷含眞體道玉皇大天帝). Vua Huy Tông phong là Thái Thượng Khai Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chơn Thể Đạo Hạo Thiên Ngọc Hoàng Thượng Đế (太上開天執符御歷含眞體道昊天玉皇上帝). Trong các kinh điển của Đạo Giáo tôn xưng là Hạo Thiên Kim Khuyết Vô Thượng Chí Tôn Tự Nhiên Diệu Hữu Di La Chí Chơn Ngọc Hoàng Đại Đế (昊天金闕無上至尊自然妙有彌羅至眞玉皇大帝). Ngài được xem như là một vị thần minh tối cao của Đạo Giáo, địa vị chỉ dưới Tam Thanh Tôn Thần (三清尊神) mà thôi. Dưới con mắt thế tục, Ngài được kính ngưỡng như vị thần tối vĩ đại, là vua trong các vị thần. Theo truyền thuyết dân gian, Ngọc Hoàng Thượng Đế không những thọ mạng Thiên Tử thống trị con người, mà còn cai quản cả Tam Giáo Nho, Lão, Thích, cùng với chư vị thần tiên của ba đạo nầy, cũng như các thiên thần, địa kỳ, người, quỷ đều thuộc quyền thống quản của Ngài. Ngoài việc quản lý ba cõi Thiên, Địa, Nhân, Ngọc Hoàng Đại Đế còn trông coi về sự hưng long, suy bại, tốt xấu, phước họa của vũ trụ vạn vật. Thuộc hạ quản lý về học vụ có Văn Xương Đế Quân (文昌帝君); về thương vụ có Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君); về công vụ có Công Thánh Tiên Sư (巧聖先師); về nông vụ có Thần Nông Tiên Đế (神農先帝); về việc địa phương có Đông Nhạc Đại Đế (東岳大帝), Thanh Sơn Vương (青山王), Thành Hoàng Da (城隍爺), Cảnh Chủ Công (境主公), Thổ Địa Công (土地公), Địa Cơ Chủ (地基主); về cõi âm có Phong Đô Đại Đế (酆都大帝) và Thập Điện Diêm Vương (十殿閻王). Theo lý luận của Đạo Giáo, Trời có 13 tầng, mỗi tầng có 3 vạn dặm, địa phương ngoài Trời ra được gọi là Vô Cực (無極), cõi trong Trời là Thái Cực (太極). Ngọc Hoàng Đại Đế là thần linh tối cao vô thượng trong vũ trụ, hết thảy chư thần linh đều phải vâng lịnh Ngài. Cõi Trời Thái Cực chia thành 5 cõi Trời khác nhau: Trung Thiên (中天) có Ngọc Hoàng Đại Đế an ngự, trên chưởng quản 36 cõi trời, ba ngàn thế giới, dưới trông coi 72 cõi, hết thảy sinh linh. Đông Thiên (東天) có Tam Quan Đại Đế (三官大帝), chủ quản ban phước, kéo dài tuổi thọ, giải trừ tai ách, xá tội, tiêu nạn. Nam Thiên (南天) có Văn Hành Thánh Đế (文衡聖帝), chủ quản việc ủy nhiệm chư thần linh, lên xuống, khảo sát, xem xét công tội của các thần. Tây Thiên (西天) có Thích Ca Mâu Ni (釋迦牟尼), chủ quản việc tín ngưỡng, quy y của con người. Bắc Thiên (北天) có Tử Vi Đại Đế (紫微大帝), chủ quản việc ban phước, tiêu tai, ban bố tài lộc. Về lai lịch của Ngài, theo Cao Thượng Ngọc Hoàng Bản Hạnh Tập Kinh (高上玉皇本行集經) của Đạo Giáo cho rằng vào thời xa xưa có một trú xứ tên Quang Nghiêm Diệu Lạc Quốc (光嚴妙樂國); Quốc Vương xứ nầy là Tịnh Đức Vương (淨德王), Hoàng Hậu là Bảo Nguyệt Quang (寶月光). Cả hai đều lớn tuổi nhưng không có con nối dõi. Bỗng một đêm nọ, bà mộng thấy Thái Thượng Lão Quân (太上老君) ẵm một đứa hài nhi đưa vào trong bài thai của Hoàng Hậu. Bà cung kính đón nhận, đến khi tỉnh dậy mới hay rằng mình đã có thai. Mang thai tròn 12 tháng, rồi đến ngày mồng 9 tháng giêng năm Bính Ngọ thì hạ sinh Thái Tử. Ngay từ lúc nhỏ, Thái Tử đã thông tuệ, đến khi lớn lên phụ tá cho Quốc Vương rất đắc lực, thương dân, làm việc thiện, cứu người nghèo khổ. Sau khi vua cha băng hà, Thái Tử từ bỏ ngôi vị, vào trong Phổ Minh Hương Nham Sơn (普明香岩山) tu đạo, trải qua 3.200 kiếp, mới chứng được Kim Tiên, hiệu là Tự Nhiên Giác Hoàng. Sau đó, lại trải qua cả ức kiếp mới chứng thành Ngọc Đế, hy sinh thân mạng để cứu độ chúng sanh. Từ đó, mồng 9 tháng giêng hằng năm được xem như là ngày khánh đản của Ngọc Hoàng Đại Đế. Tại các Đạo Quán đều có thiết lễ dâng cúng, gọi là Ngọc Hoàng Hội (玉皇會) để cầu nguyện phước quả, sống lâu. Tại tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc cũng như Đài Loan, ngày nầy được gọi là ngày Bái Thiên Công (拜天公, Lạy Ông Trời); cho nên cả gia đình lớn nhỏ, già trẻ đều giữ gìn trai giới, tắm rửa sạch sẽ, dâng hương hành lễ, vái lạy, tụng kinh. Thời xưa, ở phương Bắc của Trung Quốc có tục lệ tế lễ Ngọc Hoàng, rước tượng Ngài đi cùng khắp thôn xóm. Tương truyền 25 tháng 12 là ngày Ngọc Hoàng Đại Đế hạ phàm tuần tra nhân gian, cho nên các Đạo Quán cũng như trong dân gian đều có thắp hương, tụng kinh để nghênh đón Ngài. Trong bài Mộng Tiên (夢仙), Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) có đoạn thơ xưng tán Ngọc Hoàng Đại Đế rằng: “An kỳ tiện môn bối, liệt thị như công khanh, ngưỡng yết Ngọc Hoàng Đế, khể thủ tiền trí thành (安期羨門輩、列侍如公卿、仰謁玉皇帝、稽首前致誠, mong sao lòng kẻ mọn, hầu hạ như công khanh, ngưỡng tâu Ngọc Hoàng Đế, cúi đầu tâm chí thành). Trong bài thơ Tặng Biệt Xá Nhân Đài Khanh Chi Giang Nam (贈別舍人臺卿之江南) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Nhập động quá thiên địa, đăng chơn chầu Ngọc Hoàng (入洞過天地、登眞朝玉皇, vào động qua trời đất, lên chơn chầu Ngọc Hoàng).” Trong Đạo Mẫu của Việt Nam, Ngọc Hoàng được gọi là Vua Cha Ngọc Hoàng, là cha của Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
- Nam Tào (南曹): tức Nam Đẩu Tinh Quân (南斗星君), là vị thiên thần rất quan trọng trong Đạo Giáo, chưởng quản chùm sao Nam Đẩu, ở phương Nam. Có thuyết cho rằng chùm sao nầy trông coi về thọ mạng ngắn dài của nhân loại, cho nên có câu: “Nam Đẩu chú sanh, Bắc Đẩu chủ tử (南斗注生、北斗主死, Nam Đẩu trông coi về sự sống, Bắc Đẩu chủ quản về việc chết).” Trong Sưu Thần Ký (搜神記) quyển 3 của Can Bảo (干寶, ?-336) nhà Đông Tấn có ghi lại câu chuyện Nam Đẩu Tinh Quân và Bắc Đẩu Tinh Quân ban tặng thêm tuổi thọ cho người phàm. Quản Lộ tự Công Minh (公明), vốn người ở đất Bình Nguyên đời Tam Quốc (220-264) diện mạo xấu xí, thích uống rượu. Từ bé, Lộ ham xem thiên văn, thường đêm nằm nhìn trăng sao, thao thức không chớp mắt, cha mẹ ngăn cấm không được. Vừa lớn lên, Quản Lộ đã làu thông Kinh Dịch, hiểu hết nghĩa uyên thâm, biết đoán chiều gió, tinh thông khoa lý số và giỏi cả xem tướng. Nhân khi Quản Lộ (管輅) đến Bình Nguyên, thấy khuôn mặt của Nhan Siêu (顏超) hiện rõ nét sẽ chết yểu; nhân đó cha họ Nhan bèn van xin Lộ làm cho kéo dài thêm mạng sống. Lộ bảo rằng: “Khi con ông về, hãy tìm loại rượu trắng, một cân thịt nai luộc chín, trứng, đem đến dưới cây dâu lớn phía Nam, nơi ấy có hai người đang ở đó, cứ rót rượu rồi đặt thịt luộc xuống; họ uống hết thì rót thêm. Nếu họ hỏi ông thì ông cứ vái lạy, đừng nói lời nào cả, ắt hai người đó sẽ cứu người.” Họ Nhan làm đúng theo lời dặn, quả nhiên thấy có hai người đang ngồi đánh cờ, bèn lẳng lặng đặt rượu thịt xuống trước mặt họ. Hai người say mê chơi, chỉ biết uống rượu ăn thịt, chẳng thèm nhìn xem thử ai ngồi một bên mình, rồi dần dần vừa đánh vừa ăn uống hết cả rượu thịt một cách ngon lành. Lúc bấy giờ, Nhan mới khóc òa lên và lạy lục xin cầu thọ. Hai ông giựt nẩy mình nhìn lại. Đột nhiên, người ngồi phía Bắc ngước lên nhìn thấy họ Nhan, bèn hỏi: “Làm gì đến đây ?” Họ Nhan chỉ cúi đầu vái lạy. Người ngồi ở phía Nam chợt nói: “Đã uống rượu, ăn thịt người ta rồi, sao lại không có chuyện được chứ ?” Người phía Bắc bảo: “Hồ sơ đã định rồi.” Người phía Nam nói: “Cứ mượn hồ sơ xem sao.” Xem qua mới biết Nhan Siêu chỉ sống đến 19 tuổi, họ bèn lấy bút phê rằng: “Cứu nhữ chí cửu thập niên hoạt (救汝至九十年活, cứu ngươi sống đến chín mươi tuổi).” Họ Nhan vái lạy tạ ơn trở về. Quản Lộ bảo họ Nhan rằng: “Bắc biên tọa nhân thị Bắc Đẩu, Nam biên tọa nhân thị Nam Đẩu; Nam Đẩu chú sanh, Bắc Đẩu chủ tử; phàm nhân thọ thai, giai tùng Nam Đẩu quá Bắc Đẩu (北邊坐人是北斗、南邊坐人是南斗、南斗注生、北斗主死、凡人受胎、皆從南斗過北斗, người ngồi ở phía Bắc là Bắc Đẩu, người ngồi ở phía Nam là Nam Đẩu; Nam Đẩu trông coi về sự sống, Bắc Đẩu chủ quản về việc chết; người phàm thọ thai, đều từ Nam Đẩu qua Bắc Đẩu).” Trong Nam Đẩu Lục Ty Diên Mạng Độ Nhân Diệu Kinh (南斗六司延壽度人妙經) của Đạo Giáo có nêu tên 6 vị tinh quân của chùm sao Nam Đẩu nầy là: Nam Đẩu Đệ Nhất Thiên Phủ Ty Mạng Thượng Tướng Trấn Quốc Chơn Quân (南斗第一天府司命上相鎭國眞君), Nam Đẩu Đệ Nhị Thiên Tướng Ty Lục Thượng Tướng Trấn Nhạc Chơn Quân (南斗第二天相司錄上相鎭嶽眞君), Nam Đẩu Đệ Tam Thiên Lương Diên Thọ Bảo Mạng Chơn Quân (南斗第三天梁延壽保命眞君), Nam Đẩu Đệ Tứ Thiên Đồng Ích Toán Bảo Sanh Chơn Quân (南斗第四天同益算保生眞君), Nam Đẩu Đệ Ngũ Thiên Xu Độ Ách Văn Xương Luyện Hồn Chơn Quân (南斗第五天樞度厄文昌鍊魂眞君), Nam Đẩu Đệ Lục Thiên Cơ Thượng Sanh Giám Bộ Đại Lý Chơn Quân (南斗第六天機上生監簿大理眞君). Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển của Cao Đài Giáo Việt Nam có câu: “Vạn trượng then gài ngăn Bắc Đẩu, muôn trùng nhíp khảm hiệp Nam Tào.” Hay trong Kinh Tụng Huynh Đệ Mãn Phần của đạo nầy cũng có câu: “Rủi thiên số Nam Tào đã định, giải căn sinh xa lánh trần ai.”
- Bắc Đẩu (北斗): nói đủ là Bắc Đẩu Thất Tinh (北斗七星), tức 7 ngôi sao có hình cái muỗng tụ lại ở phương Bắc, cách xa Bắc Cực khoảng 30 độ, gồm Thiên Xu (天樞), Thiên Tuyền (天璇), Thiên Ki (天璣), Thiên Quyền (天權), Thiên Hành (天衡), Khai Dương (開陽) và Dao Quang (瑤光). Trong Thiên Văn, chùm sao nầy được gọi là Đại Hùng Tinh (大熊星), tên tục là Tham Lang Tinh (貪狼星), Cự Môn Tinh (巨門星), Lộc Tồn Tinh (祿存星), Văn Khúc Tinh (文曲星), Liêm Trinh Tinh (廉貞星), Võ Khúc Tinh (武曲星), và Phá Quân Tinh (破軍星), v.v. Theo quan niệm cổ đại, Thiên Xu được xem như là Chánh Tinh, chủ về dương đức; Thiên Tuyền là Pháp Tinh, chủ về âm hình; Thiên Ky là Lịnh Tinh, chủ về phạt hại; Thiên Quyền là Phạt Tinh, chủ về thiên lý; Thiên Hành là Sát Tinh, chủ cả trung ương và bốn phương; Khai Dương là Nguy Tinh, chủ thiên thực ngũ cốc; và Dao Quang là Bộ Tinh, chủ về binh lính. (1) Thiên Xu Dương Minh Ty Mạng Thái Tinh Quân (天樞陽明司命太星君), còn gọi là Thiên Anh (天英), chủ về thiên, là cung bổn mạng của người sinh năm Tý. (2) Thiên Tuyền Âm Tinh Ty Lục Nguyên Tinh Quân (天璇陰精司祿元星君), còn gọi là Thiên Nhậm (天任), chủ về địa, là cung bổn mạng của người sinh năm Sửu và Hợi. (3) Thiên Ki Chân Nhân Lộc Tồn Chân Tinh Quân (天璣眞人祿存眞星君), còn gọi là Thiên Trụ (天柱), chủ về hỏa, là cung bổn mạng của người sinh năm Dần và Tuất. (4) Thiên Quyền Huyền Minh Diên Thọ Nữu Tinh Quân (天權玄明延壽紐星君), còn gọi là Thiên Tâm (天心), chủ về thủy, là cung bổn mạng của người sinh năm Mão và Dậu. (5) Thiên Hành Đan Nguyên Ích Toán Cương Tinh Quân (天衡丹元益算綱星君), còn gọi là Thiên Cầm (天禽), chủ về thổ, là cung bổn mạng của người sinh năm Thìn và Thân. (6) Khai Dương Bắc Cực Độ Ách Kỷ Tinh Quân (闓陽北極度厄紀星君), còn gọi là Thiên Phụ (天輔), chủ về mộc, là cung bổn mạng của người sinh năm Tỵ và Mùi. (7) Dao Quang Thiên Xung Thượng Sanh Quan Tinh Quân (瑤光天沖上生關星君), còn gọi là Thiên Xung (天沖), chủ về kim, là cung bổn mạng của người sinh năm Ngọ. Tôn Tinh Vương Pháp, Bắc Đẩu Pháp, Bắc Đẩu Hộ Ma Pháp, v.v., của Mật Giáo đều là pháp cầu đảo chùm sao nầy. Ngoài ra, trong một số Ngữ Lục của Thiền môn như Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 33, phần Tổ Sư Cơ Duyên (祖師機緣), có câu “Bắc Đẩu lí tàng thân (北斗裏藏身, ẩn thân trong sao Bắc Đẩu)”, muốn ám chỉ thần thông diệu dụng của Thiền sư, giống như ẩn thân trong sao Bắc Đẩu. Trong Vân Môn Khuôn Chơn Thiền Sư Quảng Lục (雲門匡眞禪師廣錄, Taishō Vol. 47, No. 1988) có đoạn rằng: “Vấn: ‘Như hà thị thấu Pháp Thân cú ?’ Sư vân: ‘Bắc Đẩu lí tàng thân’ (問、如何是透法身句、師云、北斗裏藏身, Hỏi rằng: ‘Thế nào là câu thấu triệt Pháp Thân ?’ Sư đáp: ‘Ẩn thân trong sao Bắc Đẩu’).”
- Ngưu Đầu Mã Diện (牛頭馬面): lính Đầu Trâu Mặt Ngựa, tên gọi hai vị quỷ tốt trong cõi Âm Ty, cũng là hai vị tướng quân cai quản chúng âm linh Ngạ Quỷ dưới Địa Ngục, còn gọi là Câu Hồn Sứ Giả (勾魂使者); được xếp vào trong 10 vị quỷ Ly Mị Võng Lượng (魑魅魍魎). Ngưu Đầu (牛頭) xuất xứ từ Phật Giáo, tên là A Bàng (阿傍); có đầu trâu, tay người, hai chân trâu; tay cầm cây Cương Xoa (鋼叉); sức mạnh vô song, có thể nâng ngọn núi lớn được. Theo Thiết Thành Nê Lê Kinh (鐵城泥犁經, Taishō Vol. 1, No. 42), khi đang còn làm thân người, A Bàng không hiếu thuận với cha mẹ, nên sau khi chết bị biến thành con quỷ có đầu trâu, có trách nhiệm tuần tra tứ phương và bắt tội nhân trốn ngục; nên có tên gọi là Phòng La Nhân (防邏人). Có tư liệu cho rằng ban đầu trong Phật Giáo chỉ có Ngưu Đầu, chứ không có nhân vật Mã Diện (馬面); nhưng sau khi Phật Giáo du nhập vào Trung Quốc, do quan niệm đối xứng của dân gian, dần dần xuất hiện thêm Mã Diện. Cũng có thuyết cho rằng Mã Diện có tên gọi khác là Mã Diện La Sát (馬面羅刹), hay Mã Đầu La Sát (馬頭羅刹), có khuôn mặt con ngựa, cũng xuất phát từ Phật Giáo, là vị thần lớn trong Mật Giáo. Tương truyền Mã Diện La Sát là hóa thân của Bồ Tát Quan Âm và cũng là dịch nhân cõi Âm Phủ. Hai vị quỷ tốt nầy thường đi chung với nhau, bắt tội nhân trốn ngục và mang trở về địa ngục. Trong A Di Đà Kinh Sớ Sao Vấn Biện (阿彌陀經疏鈔問辯, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 22, No. 426) có đoạn: “Thế sở vị Ngưu Đầu Mã Diện giả, Diêm La Vương chi bộ tốt dã(世所謂牛頭馬面者、閻羅王之部卒也, thế gian gọi Đầu Trâu Mặt Ngựa, chính là lính bộ hạ của Diêm La Vương).” Hay trong Lăng Nghiêm Kinh Bảo Kính Sớ (楞嚴經寶鏡疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 16, No. 316) cũng có đoạn rằng: “Phục hữu hỏa xà hỏa cẩu, dĩ chí Ngưu Đầu Mã Diện, khu sử nhập thành, hướng Vô Gián ngục (復有火蛇火狗、以至牛頭馬面、驅使入城、向無間獄, lại có rắn lửa chó lửa, cho đến lính Đầu Trâu Mặt Ngựa, đuổi vào trong thành, hướng phía Địa Ngục Vô Gián).”